top of page

lethanhluan

/architect/

Search

Cỗ máy ngừng chạy (The Machine Stops) — E. M. Forster, 1909

Oct 7
57 min read


Audio cover
KHI CỖ MÁY NGỪNG CHẠYE. M. FORSTER (AI DỊCH VÀ ĐỌC)


Bản dịch tiếng Việt dùng cho sách nói.

Phần một. Phi thuyền.

Hãy hình dung, nếu bạn có thể, một căn phòng nhỏ hình lục giác, giống như một ô tổ ong. Nó không được chiếu sáng bằng cửa sổ hay bằng đèn, vậy mà vẫn tràn ngập một thứ ánh sáng dịu nhẹ. Không có lỗ thông gió nào, vậy mà không khí vẫn trong lành. Không có nhạc cụ nào, vậy mà, vào lúc dòng suy tưởng của tôi bắt đầu, căn phòng này đang rộn ràng những âm thanh du dương. Ở giữa phòng là một chiếc ghế bành, bên cạnh là một chiếc bàn đọc sách, chỉ có vậy là toàn bộ đồ đạc. Và trên chiếc ghế bành ấy là một khối thịt quấn trong chăn, một người đàn bà, cao chừng một mét rưỡi, gương mặt trắng bệch như nấm. Căn phòng nhỏ này thuộc về bà.

Một hồi chuông điện vang lên.

Người đàn bà chạm vào một công tắc, và tiếng nhạc im bặt.

“Chắc mình phải xem ai đây”, bà nghĩ, rồi cho chiếc ghế chuyển động. Chiếc ghế, cũng như tiếng nhạc, chạy bằng máy móc, và nó lăn bà sang phía bên kia căn phòng, nơi tiếng chuông vẫn reo dai dẳng.

“Ai đấy?” bà hỏi. Giọng bà cáu kỉnh, vì từ lúc nhạc bắt đầu, bà đã bị làm phiền nhiều lần. Bà quen biết vài nghìn người; ở một số phương diện, sự giao tiếp giữa người với người đã tiến bộ vượt bậc.

Nhưng khi bà lắng nghe vào ống nghe, gương mặt trắng bệch của bà nhăn lại thành nụ cười, và bà nói:

“Được thôi. Ta nói chuyện nào, mẹ sẽ cách ly. Mẹ không nghĩ có chuyện gì quan trọng xảy ra trong năm phút tới, vì mẹ có thể dành trọn năm phút cho con, Kuno ạ. Sau đó mẹ phải trình bày bài giảng về ‘Âm nhạc thời kỳ Úc châu’.”

Bà chạm vào núm cách ly, để không ai khác có thể nói chuyện với bà. Rồi bà chạm vào bộ phận chiếu sáng, và căn phòng nhỏ chìm vào bóng tối.

“Nhanh lên!”

Bà gọi, cơn bực bội quay trở lại.

“Nhanh lên, Kuno; mẹ đang ngồi trong bóng tối phí thời gian đây này.”

Nhưng phải mất trọn mười lăm giây chiếc đĩa tròn bà cầm trong tay mới bắt đầu sáng lên. Một vệt sáng xanh nhạt lướt qua mặt đĩa, sẫm dần thành màu tím, và chẳng mấy chốc bà đã nhìn thấy hình ảnh của con trai mình, người sống ở bên kia trái đất, và cậu cũng nhìn thấy bà. “Kuno, con chậm chạp quá.”

Cậu mỉm cười nghiêm trang.

“Mẹ thật tin là con thích lề mề.”

“Con đã gọi mẹ trước đây rồi, mẹ ạ, nhưng lúc nào mẹ cũng bận hoặc đang cách ly. Con có một chuyện đặc biệt muốn nói.”

“Chuyện gì thế, con trai yêu quý? Nhanh lên. Sao con không gửi bằng bưu điện khí nén?”

“Vì con muốn tự mình nói ra chuyện như thế. Con muốn…”

“Sao?”

“Con muốn mẹ đến thăm con.”

Vashti nhìn gương mặt con trong chiếc đĩa xanh.

“Nhưng mẹ đang nhìn thấy con đây thôi!” bà kêu lên. “Con còn muốn gì nữa?”

“Con muốn nhìn thấy mẹ không qua Cỗ Máy,” Kuno nói. “Con muốn nói chuyện với mẹ không qua Cỗ Máy nhàm chán này.”

“Ôi, im đi!” mẹ cậu nói, hơi sửng sốt. “Con không được nói gì chống lại Cỗ Máy.”

“Tại sao không?”

“Người ta không được làm thế.”

“Mẹ nói cứ như thể một vị thần đã tạo ra Cỗ Máy vậy,” người con kêu lên. “Con tin là mẹ cầu nguyện nó mỗi khi mẹ buồn. Con người đã tạo ra nó, đừng quên điều đó. Những con người vĩ đại, nhưng vẫn là con người. Cỗ Máy là rất nhiều thứ, nhưng nó không phải là tất cả. Con thấy một cái gì đó giống mẹ trong chiếc đĩa này, nhưng con không thấy mẹ. Con nghe một cái gì đó giống mẹ qua chiếc điện thoại này, nhưng con không nghe thấy mẹ. Vì vậy con mới muốn mẹ đến. Hãy đến thăm con, để chúng ta có thể gặp mặt nhau, và nói chuyện về những hy vọng đang có trong đầu con.”

Bà đáp rằng bà khó mà thu xếp được thời gian cho một chuyến thăm.

“Phi thuyền chỉ mất chưa đầy hai ngày để bay từ chỗ mẹ đến chỗ con.”

“Mẹ không thích phi thuyền.”

“Tại sao?”

“Mẹ không thích nhìn thấy mặt đất nâu xỉn ghê tởm, cả biển, cả những ngôi sao khi trời tối. Mẹ chẳng nảy ra ý tưởng nào khi ở trên phi thuyền.”

“Còn con thì chẳng nảy ra ý tưởng nào ở bất cứ đâu khác.”

“Bầu trời thì cho con được ý tưởng gì chứ?”

Cậu ngừng lại một thoáng.

“Mẹ có biết bốn ngôi sao lớn tạo thành một hình chữ nhật, và ba ngôi sao sát nhau ở giữa hình chữ nhật ấy, và treo lủng lẳng bên dưới là ba ngôi sao khác không?”

“Không, mẹ không biết. Mẹ không thích sao. Nhưng chúng có cho con một ý tưởng không? Thú vị quá; kể mẹ nghe đi.”

“Con nảy ra ý nghĩ rằng chúng giống như một con người.”

“Mẹ không hiểu.”

“Bốn ngôi sao lớn là vai và đầu gối của người ấy. Ba ngôi sao ở giữa giống như chiếc thắt lưng mà đàn ông ngày xưa vẫn đeo, còn ba ngôi sao treo bên dưới giống như một thanh gươm.”

“Một thanh gươm à?”

“Ngày xưa đàn ông mang gươm theo bên mình, để giết thú vật và giết những người khác.”

“Mẹ không thấy đó là một ý tưởng hay lắm, nhưng chắc chắn là độc đáo. Lần đầu con nghĩ ra nó là khi nào?”

“Trên phi thuyền…” Cậu ngừng bặt, và bà có cảm giác cậu trông buồn. Bà không chắc được, vì Cỗ Máy không truyền đi những sắc thái biểu cảm. Nó chỉ đem lại một ý niệm chung chung về con người, một ý niệm đủ tốt cho mọi mục đích thực tế, Vashti nghĩ vậy. Cái lớp phấn mịn khó nắm bắt, thứ mà một trường phái triết học đã bị bác bỏ từng cho là bản chất thật sự của sự giao tiếp, đã bị Cỗ Máy bỏ qua một cách chính đáng, cũng như lớp phấn mịn trên quả nho đã bị những nhà sản xuất trái cây nhân tạo bỏ qua. Loài người chúng ta từ lâu đã chấp nhận một thứ “đủ tốt”.

“Sự thật là,” cậu nói tiếp, “con muốn được nhìn thấy những ngôi sao ấy một lần nữa. Chúng là những ngôi sao kỳ lạ. Con muốn nhìn chúng không phải từ phi thuyền, mà từ mặt đất, như tổ tiên chúng ta đã nhìn, hàng nghìn năm trước. Con muốn lên thăm bề mặt trái đất.”

Bà lại sửng sốt lần nữa.

“Mẹ ơi, mẹ phải đến, dù chỉ để giải thích cho con xem lên thăm bề mặt trái đất thì có hại gì.”

“Chẳng có hại gì,” bà đáp, cố tự trấn tĩnh. “Nhưng cũng chẳng có lợi gì. Bề mặt trái đất chỉ toàn bụi và bùn, không còn sự sống nào trên đó, và con sẽ cần một chiếc mặt nạ thở, nếu không cái lạnh của không khí bên ngoài sẽ giết chết con. Người ta chết ngay lập tức trong không khí bên ngoài.”

“Con biết; dĩ nhiên con sẽ đề phòng đầy đủ.”

“Và ngoài ra thì…”

“Sao ạ?”

Bà cân nhắc, và lựa lời cẩn thận. Con trai bà có tính khí kỳ quặc, và bà muốn can ngăn cậu khỏi chuyến đi ấy.

“Điều đó trái với tinh thần của thời đại,” bà khẳng định.

“Ý mẹ là trái với Cỗ Máy à?”

“Theo một nghĩa nào đó, nhưng…”

Hình ảnh của cậu trong chiếc đĩa xanh mờ dần.

“Kuno!”

Cậu đã tự cách ly.

Trong một khoảnh khắc, Vashti thấy cô đơn.

Rồi bà bật đèn lên, và cảnh căn phòng của bà, ngập trong ánh sáng và lấm tấm những nút bấm điện, làm bà tỉnh lại. Nút bấm và công tắc ở khắp nơi: nút gọi đồ ăn, gọi âm nhạc, gọi quần áo. Có nút tắm nóng, chỉ cần nhấn là một bồn tắm bằng đá cẩm thạch, đá giả thôi, nhô lên từ sàn nhà, đầy tới miệng một thứ chất lỏng ấm đã khử mùi. Có nút tắm lạnh. Có nút tạo ra văn chương. Và dĩ nhiên có những nút để bà liên lạc với bạn bè. Căn phòng, tuy chẳng chứa gì, lại được kết nối với tất cả những gì bà quan tâm trên đời.

Việc tiếp theo Vashti làm là tắt công tắc cách ly, và mọi thứ dồn ứ trong ba phút vừa qua ập đến với bà. Căn phòng tràn ngập tiếng chuông và tiếng ống nói. Món ăn mới thế nào? Bà có giới thiệu được không? Gần đây bà có ý tưởng gì không? Người ta có thể kể cho bà nghe ý tưởng của mình không? Bà có hẹn được một buổi đến thăm các nhà trẻ công cộng trong thời gian sớm nhất không, chẳng hạn ngày này tháng sau?

Phần lớn các câu hỏi ấy, bà trả lời một cách cáu kỉnh, một phẩm chất ngày càng phổ biến trong thời đại hối hả ấy. Bà nói món ăn mới thật kinh khủng. Rằng bà không thể đến thăm nhà trẻ công cộng vì kín lịch. Rằng bà không có ý tưởng riêng nào, nhưng vừa được nghe kể một ý tưởng: rằng bốn ngôi sao và ba ngôi sao ở giữa thì giống một con người. Bà ngờ là điều đó chẳng có gì đáng kể. Rồi bà ngắt liên lạc với những người đang gọi, vì đã đến giờ trình bày bài giảng về âm nhạc Úc châu.

Cái hệ thống tụ họp đông người vụng về đã bị bãi bỏ từ lâu; cả Vashti lẫn thính giả của bà đều không rời phòng mình. Ngồi trên ghế bành, bà nói, trong khi họ, ngồi trên ghế bành của họ, nghe bà, khá rõ, và nhìn thấy bà, khá rõ. Bà mở đầu bằng một câu chuyện hài hước về âm nhạc thời kỳ trước Mông Cổ, rồi tiếp tục mô tả sự bùng nổ ca hát lớn lao sau cuộc chinh phục của người Trung Hoa. Dù phương pháp của I-San-So và trường phái Brisbane có xa xưa và nguyên sơ đến đâu, bà vẫn cảm thấy, bà nói vậy, rằng việc nghiên cứu chúng có thể đem lại lợi ích cho các nhạc sĩ ngày nay: chúng có sự tươi mới; và trên hết, chúng có ý tưởng. Bài giảng của bà, kéo dài mười phút, được đón nhận nồng nhiệt, và khi kết thúc, bà cùng nhiều thính giả nghe một bài giảng về biển; có những ý tưởng có thể rút ra từ biển; diễn giả đã đeo mặt nạ thở và vừa đi thăm biển gần đây. Sau đó bà ăn, nói chuyện với nhiều bạn bè, tắm, lại nói chuyện, rồi gọi giường.

Chiếc giường không vừa ý bà. Nó quá rộng, mà bà lại thích giường nhỏ. Phàn nàn cũng vô ích, vì giường trên khắp thế giới đều cùng một kích cỡ, và có thêm một kích cỡ khác sẽ đòi hỏi những thay đổi to lớn trong Cỗ Máy. Vashti tự cách ly, điều này là cần thiết, vì dưới lòng đất chẳng còn ngày cũng chẳng còn đêm, rồi bà điểm lại mọi chuyện đã xảy ra kể từ lần trước bà gọi giường. Ý tưởng ư? Hầu như không có. Sự kiện ư? Lời mời của Kuno có phải là một sự kiện không?

Bên cạnh bà, trên chiếc bàn đọc nhỏ, là một di vật còn sót lại từ thời đại bừa bộn: một cuốn sách. Đó là cuốn Sách của Cỗ Máy. Trong đó có chỉ dẫn cho mọi tình huống có thể xảy ra. Nếu bà thấy nóng hay lạnh, hay khó tiêu, hay không tìm ra từ để nói, bà tìm đến cuốn sách, và nó bảo bà phải nhấn nút nào. Ủy ban Trung ương phát hành nó. Theo một thói quen ngày càng phổ biến, nó được đóng bìa rất sang trọng.

Ngồi dậy trên giường, bà cung kính nâng nó trong tay. Bà liếc quanh căn phòng rực sáng như thể có ai đó đang nhìn mình. Rồi, nửa ngượng ngùng, nửa sung sướng, bà thì thầm: “Ôi Cỗ Máy! Ôi Cỗ Máy!” và nâng cuốn sách lên môi. Ba lần bà hôn nó, ba lần cúi đầu, ba lần cảm thấy cơn mê sảng của sự quy phục. Nghi thức xong xuôi, bà lật đến trang 1367, nơi ghi giờ khởi hành của các phi thuyền từ hòn đảo ở bán cầu nam, nơi bà sống dưới lòng đất, đến hòn đảo ở bán cầu bắc, nơi con trai bà sống bên dưới.

Bà nghĩ: “Mình không có thời gian.”

Bà làm tối căn phòng và ngủ; bà thức dậy và làm sáng căn phòng; bà ăn và trao đổi ý tưởng với bạn bè, nghe nhạc và dự các bài giảng; bà làm tối căn phòng và ngủ. Phía trên bà, phía dưới bà, và xung quanh bà, Cỗ Máy rì rầm không ngừng nghỉ; bà không để ý đến tiếng ồn ấy, vì nó đã ở trong tai bà từ lúc bà sinh ra. Trái đất, mang theo bà, rì rầm khi lao đi trong im lặng, xoay bà lúc thì về phía mặt trời vô hình, lúc thì về phía những vì sao vô hình. Bà thức dậy và làm sáng căn phòng.

“Kuno!”

“Con sẽ không nói chuyện với mẹ,” cậu đáp, “cho đến khi mẹ đến.”

“Từ lần trước mẹ con mình nói chuyện, con đã lên bề mặt trái đất chưa?”

Hình ảnh của cậu mờ dần.

Bà lại tra cuốn sách. Bà trở nên rất bồn chồn, và nằm ngả ra ghế, tim đập thình thịch. Hãy hình dung bà là người không răng, không tóc. Một lúc sau, bà cho ghế đi đến sát tường, và nhấn một chiếc nút lạ. Bức tường từ từ mở ra. Qua khe hở, bà nhìn thấy một đường hầm hơi cong, nên không nhìn thấy điểm cuối. Nếu bà đi thăm con trai, đây chính là điểm khởi đầu của cuộc hành trình.

Dĩ nhiên bà biết tất cả về hệ thống giao thông. Chẳng có gì bí ẩn trong đó. Bà sẽ gọi một chiếc xe, và nó sẽ bay cùng bà xuôi theo đường hầm cho đến khi tới chiếc thang máy nối với trạm phi thuyền: hệ thống ấy đã được sử dụng từ rất, rất nhiều năm, từ rất lâu trước khi Cỗ Máy được thiết lập trên toàn cầu. Và dĩ nhiên bà đã nghiên cứu nền văn minh ngay trước nền văn minh của bà, cái nền văn minh đã hiểu sai chức năng của hệ thống, và dùng nó để đưa con người đến với sự vật, thay vì đưa sự vật đến với con người. Những ngày xưa buồn cười ấy, khi người ta đi đâu đó để đổi gió, thay vì đổi không khí trong phòng mình! Thế nhưng, bà vẫn sợ đường hầm: bà chưa nhìn thấy nó kể từ khi đứa con cuối cùng của bà ra đời. Nó cong, nhưng không hẳn như bà nhớ; nó sáng rực, nhưng không hẳn sáng rực như một diễn giả đã gợi ý. Vashti bị nỗi kinh hoàng của trải nghiệm trực tiếp xâm chiếm. Bà co rúm lùi vào trong phòng, và bức tường khép lại.

“Kuno,” bà nói, “mẹ không thể đến thăm con được. Mẹ không khỏe.”

Lập tức một bộ máy khổng lồ từ trần nhà rơi xuống người bà, một chiếc nhiệt kế tự động đặt lên ngực bà. Bà nằm bất lực. Những miếng đệm mát xoa dịu trán bà. Kuno đã đánh điện cho bác sĩ của bà.

Vậy là những cảm xúc của con người vẫn còn lóng ngóng chạy tới chạy lui bên trong Cỗ Máy. Vashti uống thứ thuốc mà bác sĩ phóng vào miệng bà, và bộ máy rút trở lại lên trần. Có tiếng Kuno hỏi bà thấy thế nào.

“Đỡ rồi.” Rồi, cáu kỉnh: “Nhưng sao con không đến chỗ mẹ?”

“Vì con không thể rời khỏi nơi này.”

“Tại sao?”

“Vì bất cứ lúc nào, một điều trọng đại có thể xảy ra.”

“Con đã lên bề mặt trái đất chưa?”

“Chưa ạ.”

“Thế thì là chuyện gì?”

“Con sẽ không nói với mẹ qua Cỗ Máy.”

Bà trở lại cuộc sống của mình.

Nhưng bà nghĩ về Kuno khi còn bé bỏng, lúc cậu chào đời, lúc cậu được chuyển đến nhà trẻ công cộng, lần bà đến thăm cậu ở đó, những lần cậu đến thăm bà, những chuyến thăm đã chấm dứt khi Cỗ Máy cấp cho cậu một căn phòng ở bên kia trái đất. “Cha mẹ, bổn phận của: chấm dứt vào thời điểm đứa trẻ chào đời. Trang 422327483,” cuốn sách của Cỗ Máy viết thế. Đúng vậy, nhưng Kuno có điều gì đó đặc biệt, quả thật tất cả các con bà đều có điều gì đó đặc biệt, và dù sao chăng nữa, bà phải can đảm thực hiện chuyến đi nếu cậu mong muốn. Và “một điều trọng đại có thể xảy ra”. Điều đó nghĩa là gì? Chắc chắn là những lời vớ vẩn của một chàng trai trẻ, nhưng bà phải đi. Bà lại nhấn chiếc nút lạ, bức tường lại mở ra, và bà nhìn thấy đường hầm cong khuất tầm mắt. Ôm chặt cuốn Sách, bà đứng dậy, lảo đảo bước ra sân ga, và gọi xe. Căn phòng khép lại sau lưng bà: cuộc hành trình đến bán cầu bắc đã bắt đầu.

Dĩ nhiên mọi chuyện hết sức dễ dàng. Chiếc xe đến gần, và bên trong bà thấy những chiếc ghế bành giống hệt chiếc của bà. Khi bà ra hiệu, nó dừng lại, và bà lảo đảo bước vào thang máy. Trong thang máy có một hành khách khác, đồng loại đầu tiên bà nhìn thấy mặt đối mặt sau nhiều tháng. Thời này ít ai đi lại, vì nhờ tiến bộ của khoa học, trái đất ở đâu cũng giống hệt nhau. Sự giao lưu nhanh chóng, điều mà nền văn minh trước đã đặt bao hy vọng, cuối cùng lại tự đánh bại chính nó. Đi Bắc Kinh làm gì khi nó cũng y như Shrewsbury? Quay về Shrewsbury làm gì khi nó rồi cũng sẽ y như Bắc Kinh? Con người hiếm khi di chuyển thân thể; mọi sự xao động đều dồn vào tâm hồn.

Dịch vụ phi thuyền là di tích của thời đại trước. Người ta duy trì nó, vì duy trì thì dễ hơn là dừng hay thu nhỏ nó lại, nhưng giờ đây nó vượt xa nhu cầu của dân chúng. Hết chiếc này đến chiếc khác sẽ bay lên từ những cửa xả ở Rye hay Christchurch, tôi dùng những cái tên cổ, bay vào bầu trời đông đúc, rồi cập vào những bến cảng phương nam, trống trơn. Hệ thống được điều chỉnh khéo léo đến mức, độc lập với thời tiết đến mức, bầu trời, dù quang đãng hay nhiều mây, đều giống như một chiếc kính vạn hoa khổng lồ, trên đó những họa tiết giống nhau cứ định kỳ lặp lại. Con tàu Vashti đi khi thì khởi hành lúc hoàng hôn, khi thì lúc bình minh. Nhưng lần nào cũng vậy, khi bay qua Reims, nó lại đi sát con tàu chạy tuyến Helsinki đến Brazil, và cứ ba lần vượt qua dãy Alps thì một lần đội tàu Palermo cắt ngang đường bay phía sau nó. Đêm và ngày, gió và bão, thủy triều và động đất, không còn cản trở được con người. Con người đã thuần phục được thủy quái Leviathan. Toàn bộ văn chương cũ, với những lời ca ngợi Thiên nhiên và nỗi sợ Thiên nhiên, nghe giả tạo như lời bập bẹ của một đứa trẻ.

Thế nhưng, khi Vashti nhìn thấy thân tàu đồ sộ, loang lổ vì phơi trong không khí bên ngoài, nỗi kinh hoàng trước trải nghiệm trực tiếp lại quay về. Nó không hoàn toàn giống chiếc phi thuyền trong máy chiếu hình. Trước hết, nó có mùi, không nồng hay khó chịu, nhưng quả là có mùi, và dù nhắm mắt lại, bà cũng biết có một thứ mới lạ đang ở gần mình. Rồi bà phải đi bộ từ thang máy đến tàu, phải chịu những ánh nhìn của các hành khách khác. Người đàn ông đi trước đánh rơi cuốn Sách của mình, chẳng phải chuyện gì to tát, nhưng nó khiến tất cả mọi người bất an. Trong các căn phòng, nếu cuốn Sách rơi, sàn nhà sẽ tự động nâng nó lên, nhưng lối đi lên phi thuyền không được trang bị như vậy, và cuốn sách thiêng nằm im bất động. Họ dừng lại, đây là chuyện không lường trước, và người đàn ông, thay vì nhặt đồ của mình lên, lại sờ nắn bắp tay xem chúng đã phản bội ông ra sao. Rồi có người thực sự cất tiếng nói trực tiếp: “Chúng ta sẽ trễ mất”, và họ lũ lượt bước lên tàu, Vashti giẫm lên những trang sách khi đi qua.

Vào trong rồi, nỗi lo của bà càng tăng. Mọi thứ được bố trí lỗi thời và thô sơ. Thậm chí còn có một nữ tiếp viên, người mà bà sẽ phải nói ra nhu cầu của mình trong suốt chuyến đi. Dĩ nhiên có một băng chuyền chạy dọc chiều dài con tàu, nhưng bà phải tự đi bộ từ đó đến buồng của mình. Có buồng tốt hơn buồng khác, và bà không được buồng tốt nhất. Bà nghĩ người tiếp viên đã bất công, và những cơn giận dữ làm bà run lên. Các van kính đã đóng lại, bà không thể quay về. Bà nhìn thấy, ở cuối tiền sảnh, chiếc thang máy đã đưa bà lên đang lặng lẽ chạy lên chạy xuống, trống không. Bên dưới những hành lang lát gạch bóng loáng kia là những căn phòng, tầng này dưới tầng kia, sâu tít vào lòng đất, và trong mỗi phòng có một con người đang ngồi, ăn, hoặc ngủ, hoặc sản sinh ý tưởng. Và chôn sâu trong tổ ong ấy là căn phòng của chính bà. Vashti sợ hãi.

“Ôi Cỗ Máy!” bà thì thầm, vuốt ve cuốn Sách của mình, và thấy được an ủi.

Rồi hai bên tiền sảnh dường như tan chảy vào nhau, như những hành lang ta thấy trong mơ, chiếc thang máy biến mất, cuốn Sách bị đánh rơi trượt sang trái rồi biến mất, những viên gạch bóng loáng lao vút qua như một dòng nước, có một cú xóc nhẹ, và chiếc phi thuyền, ra khỏi đường hầm, vút lên trên mặt nước của một đại dương nhiệt đới. Trời đã tối. Trong một thoáng, bà nhìn thấy bờ biển Sumatra viền lân quang của sóng, và đội trên đầu những ngọn hải đăng vẫn còn phát đi những tia sáng không ai để ý. Những thứ đó cũng biến mất, và chỉ còn những vì sao làm bà phân tâm. Chúng không đứng yên, mà chao qua chao lại trên đầu bà, chen chúc từ ô cửa trần này sang ô cửa trần khác, như thể chính vũ trụ, chứ không phải chiếc phi thuyền, đang nghiêng ngả. Và, như thường xảy ra trong những đêm trong trẻo, lúc thì chúng như có chiều sâu, lúc thì như nằm trên một mặt phẳng; lúc thì chồng lên nhau tầng tầng lớp lớp vào bầu trời vô tận, lúc thì che khuất sự vô tận, như một mái nhà mãi mãi giới hạn tầm nhìn của con người. Dù thế nào, chúng cũng có vẻ không thể chịu nổi.

“Chúng tôi phải đi trong bóng tối à?” các hành khách giận dữ gọi, và người tiếp viên, vốn đã lơ đễnh, bật đèn lên, rồi kéo những tấm rèm kim loại dẻo xuống. Khi những chiếc phi thuyền được chế tạo, mong muốn được nhìn thẳng vào sự vật vẫn còn vương vấn trên thế giới. Vì thế mới có số lượng cửa trần và cửa sổ nhiều đến lạ thường, và sự khó chịu tương ứng cho những người văn minh và tinh tế. Ngay cả trong buồng của Vashti, một ngôi sao vẫn len lén nhìn vào qua một khe hở trên tấm rèm, và sau vài giờ ngủ chập chờn, bà bị đánh thức bởi một thứ ánh sáng lạ, đó là bình minh.

Con tàu đã lao về phía tây nhanh đến đâu, thì trái đất còn quay về phía đông nhanh hơn nữa, và đã kéo Vashti cùng các bạn đồng hành ngược về phía mặt trời. Khoa học có thể kéo dài đêm tối, nhưng chỉ được một chút thôi, và những hy vọng lớn lao về việc vô hiệu hóa vòng quay ngày đêm của trái đất đã qua đi, cùng với những hy vọng có lẽ còn lớn lao hơn. “Theo kịp mặt trời”, hay thậm chí vượt qua nó, từng là mục tiêu của nền văn minh trước. Những chiếc máy bay đua đã được chế tạo cho mục đích ấy, có tốc độ cực lớn, do những bộ óc vĩ đại nhất thời đại điều khiển. Chúng bay vòng quanh địa cầu, hết vòng này đến vòng khác, về phía tây, về phía tây, vòng này đến vòng khác, giữa tiếng vỗ tay của nhân loại. Vô ích. Địa cầu vẫn quay về phía đông nhanh hơn, những tai nạn khủng khiếp xảy ra, và Ủy ban của Cỗ Máy, lúc ấy đang lên như diều gặp gió, tuyên bố việc theo đuổi ấy là bất hợp pháp, phi cơ giới, và bị trừng phạt bằng hình phạt Vô Gia Cư.

Về Vô Gia Cư, sẽ còn được nói thêm sau.

Chắc hẳn Ủy ban đã đúng. Thế nhưng nỗ lực “đánh bại mặt trời” đã khơi dậy mối quan tâm chung cuối cùng mà loài người chúng ta từng có về các thiên thể, hay thật ra về bất cứ điều gì. Đó là lần cuối cùng con người gắn kết với nhau khi nghĩ về một sức mạnh nằm ngoài thế giới. Mặt trời đã chiến thắng, nhưng đó lại là dấu chấm hết cho quyền uy tinh thần của nó. Bình minh, giữa trưa, hoàng hôn, đường hoàng đạo, không còn chạm đến cuộc sống hay trái tim con người nữa, và khoa học rút lui vào lòng đất, để tập trung vào những vấn đề mà nó chắc chắn giải quyết được.

Vì vậy, khi Vashti thấy buồng mình bị một ngón tay ánh sáng hồng xâm nhập, bà bực mình, và cố chỉnh lại tấm rèm. Nhưng tấm rèm bật hẳn lên, và qua ô cửa trần, bà nhìn thấy những đám mây hồng nhỏ, chao lượn trên nền trời xanh, và khi mặt trời lên cao dần, ánh sáng của nó chiếu thẳng vào, tràn xuống bức tường như một biển vàng. Nó dâng lên hạ xuống theo chuyển động của phi thuyền, như những con sóng dâng lên hạ xuống, nhưng vẫn tiến tới đều đặn, như thủy triều tiến tới. Nếu không cẩn thận, nó sẽ chiếu vào mặt bà. Một cơn kinh hoàng làm bà run lên, và bà bấm chuông gọi tiếp viên. Người tiếp viên cũng kinh hoàng, nhưng cô chẳng làm được gì; sửa rèm không phải việc của cô. Cô chỉ có thể đề nghị bà khách đổi buồng, và bà chuẩn bị làm vậy.

Con người trên khắp thế giới gần như giống hệt nhau, nhưng người tiếp viên trên phi thuyền, có lẽ vì nhiệm vụ đặc biệt của mình, đã trở nên hơi khác thường một chút. Cô thường phải nói chuyện trực tiếp với hành khách, và điều này đã khiến cử chỉ của cô có phần thô ráp và khác lạ. Khi Vashti kêu lên và né khỏi những tia nắng, cô đã cư xử một cách man rợ: cô đưa tay ra đỡ bà.

“Sao cô dám!” vị hành khách kêu lên. “Cô quên mất mình là ai rồi!”

Người phụ nữ bối rối, và xin lỗi vì đã không để bà ngã. Người ta không bao giờ chạm vào nhau. Tục lệ ấy đã lỗi thời, nhờ có Cỗ Máy.

“Chúng ta đang ở đâu đây?” Vashti hỏi một cách kiêu kỳ.

“Chúng ta đang ở trên châu Á,” người tiếp viên nói, cố tỏ ra lịch sự.

“Châu Á à?”

“Xin bà thứ lỗi cho cách nói quê mùa của tôi. Tôi đã quen gọi những nơi mình bay qua bằng những cái tên phi cơ giới của chúng.”

“Ồ, tôi nhớ châu Á rồi. Người Mông Cổ đến từ đó.”

“Bên dưới chúng ta, ngoài trời, từng có một thành phố tên là Simla.”

“Cô đã bao giờ nghe nói về người Mông Cổ và trường phái Brisbane chưa?”

“Chưa ạ.”

“Brisbane cũng từng nằm ngoài trời.”

“Những ngọn núi bên phải kia, để tôi chỉ cho bà xem.” Cô đẩy một tấm rèm kim loại ra. Dãy Himalaya chính hiện ra. “Những ngọn núi ấy từng được gọi là Nóc nhà Thế giới.”

“Cái tên mới ngớ ngẩn làm sao!”

“Bà phải nhớ rằng, trước buổi bình minh của văn minh, chúng trông như một bức tường không thể vượt qua chạm tới các vì sao. Người ta cho rằng không ai ngoài thần thánh có thể tồn tại trên những đỉnh núi ấy. Chúng ta đã tiến bộ biết bao, nhờ Cỗ Máy!”

“Chúng ta đã tiến bộ biết bao, nhờ Cỗ Máy!” Vashti nói.

“Chúng ta đã tiến bộ biết bao, nhờ Cỗ Máy!” người hành khách đã đánh rơi cuốn Sách đêm hôm trước, đang đứng ngoài hành lang, lặp lại.

“Còn thứ màu trắng trong những khe nứt kia? Nó là gì vậy?”

“Tôi quên mất tên nó rồi.”

“Làm ơn che cửa sổ lại. Những ngọn núi này chẳng cho tôi ý tưởng nào cả.”

Sườn bắc dãy Himalaya chìm trong bóng tối sâu thẳm: trên sườn phía Ấn Độ, mặt trời vừa thắng thế. Những khu rừng đã bị phá hủy trong thời đại văn chương để làm bột giấy in báo, nhưng tuyết đang bừng tỉnh trong vẻ huy hoàng buổi sáng, và mây vẫn còn vương trên ngực núi Kangchenjunga. Trên đồng bằng hiện ra tàn tích của những thành phố, với những dòng sông đã teo tóp lặng lẽ trườn qua chân tường thành, và bên cạnh chúng đôi khi có dấu vết của những cửa xả, đánh dấu các thành phố ngày nay. Trên toàn cảnh ấy, các phi thuyền lao vút, cắt ngang nhau với sự tự tin khó tin, và thản nhiên vút lên khi muốn tránh những nhiễu động của tầng khí quyển thấp để vượt qua Nóc nhà Thế giới.

“Chúng ta quả thật đã tiến bộ, nhờ Cỗ Máy,” người tiếp viên lặp lại, rồi giấu dãy Himalaya sau một tấm rèm kim loại.

Ngày trôi qua chậm chạp mệt mỏi. Các hành khách ai ngồi trong buồng nấy, tránh mặt nhau với một sự ghê sợ gần như về thể xác, và khao khát được trở lại bên dưới mặt đất. Họ có tám hay mười người, phần lớn là thanh niên, được phái đi từ các nhà trẻ công cộng để đến ở những căn phòng của người đã chết tại nhiều nơi trên trái đất. Người đàn ông đánh rơi cuốn Sách đang trên đường về nhà. Ông đã được phái đến Sumatra với mục đích duy trì nòi giống. Chỉ riêng Vashti là đi theo ý muốn riêng của mình.

Giữa trưa, bà liếc nhìn mặt đất lần thứ hai. Phi thuyền đang bay qua một dãy núi khác, nhưng bà chẳng thấy được bao nhiêu, vì mây. Những khối đá đen lơ lửng bên dưới bà, và mờ nhạt hòa vào màu xám. Hình dạng của chúng thật kỳ quái; một khối trông giống một người đàn ông nằm sóng soài.

“Ở đây chẳng có ý tưởng nào,” Vashti lẩm bẩm, rồi giấu dãy Kavkaz sau một tấm rèm kim loại.

Buổi tối bà lại nhìn ra. Họ đang bay qua một vùng biển vàng óng, trong đó có nhiều hòn đảo nhỏ và một bán đảo. Bà lặp lại: “Ở đây chẳng có ý tưởng nào,” rồi giấu Hy Lạp sau một tấm rèm kim loại.

Phần hai. Bộ máy Sửa chữa.

Qua một tiền sảnh, một thang máy, một tuyến tàu ống, một sân ga, một cánh cửa trượt, đi ngược lại từng bước của lúc khởi hành, Vashti đến được căn phòng của con trai, căn phòng giống hệt phòng của bà. Bà hoàn toàn có thể tuyên bố rằng chuyến thăm này là thừa thãi. Những chiếc nút, những chiếc núm, chiếc bàn đọc với cuốn Sách, nhiệt độ, bầu không khí, ánh sáng, tất cả đều giống hệt. Và nếu chính Kuno, máu thịt của bà, rốt cuộc đang đứng sát bên bà, thì điều đó có ích lợi gì? Bà quá có giáo dục để bắt tay cậu.

Quay mắt đi chỗ khác, bà nói như sau:

“Mẹ đến rồi đây. Mẹ vừa trải qua một chuyến đi kinh khủng nhất, và sự phát triển tâm hồn của mẹ bị chậm lại rất nhiều. Không đáng đâu, Kuno, không đáng chút nào. Thời gian của mẹ quá quý báu. Ánh nắng suýt nữa chạm vào người mẹ, và mẹ đã gặp những kẻ thô lỗ nhất. Mẹ chỉ ở lại được vài phút. Con muốn nói gì thì nói đi, rồi mẹ phải về.”

“Con đã bị đe dọa trục xuất làm Kẻ Vô Gia Cư,” Kuno nói.

Lúc này bà mới nhìn cậu.

“Con đã bị đe dọa trục xuất làm Kẻ Vô Gia Cư, và con không thể nói với mẹ chuyện như thế qua Cỗ Máy.”

Vô Gia Cư nghĩa là cái chết. Nạn nhân bị phơi ra không khí, và không khí giết chết người đó.

“Từ lần cuối nói chuyện với mẹ, con đã ra ngoài. Điều trọng đại đã xảy ra, và họ đã phát hiện ra con.”

“Nhưng sao con lại không được ra ngoài?” bà kêu lên. “Lên thăm bề mặt trái đất là hoàn toàn hợp pháp, hoàn toàn đúng chuẩn cơ giới. Mới đây mẹ còn dự một bài giảng về biển; chẳng ai phản đối chuyện đó cả; người ta chỉ việc gọi một chiếc mặt nạ thở và xin một giấy phép Xuất hành. Đó không phải là việc mà những người có đời sống tinh thần làm, và mẹ đã van con đừng làm, nhưng về mặt pháp luật thì không có gì cấm cả.”

“Con không xin giấy phép Xuất hành.”

“Thế con ra ngoài bằng cách nào?”

“Con đã tự tìm ra một con đường của riêng mình.”

Cụm từ ấy chẳng có nghĩa gì với bà, và cậu phải nhắc lại.

“Một con đường của riêng con?” bà thì thào. “Nhưng như thế là sai trái.”

“Tại sao?”

Câu hỏi làm bà sửng sốt tột độ.

“Mẹ đang bắt đầu tôn thờ Cỗ Máy,” cậu lạnh lùng nói. “Mẹ cho rằng việc con tự tìm ra con đường của riêng mình là bất kính. Đó đúng là điều Ủy ban đã nghĩ, khi họ đe dọa trục xuất con làm Kẻ Vô Gia Cư.”

Đến đây bà nổi giận. “Mẹ chẳng tôn thờ thứ gì cả!” bà kêu lên. “Mẹ là người cực kỳ tiến bộ. Mẹ không cho con là bất kính, vì làm gì còn thứ gọi là tôn giáo nữa. Mọi nỗi sợ hãi và mê tín từng tồn tại đã bị Cỗ Máy xóa sạch. Mẹ chỉ muốn nói rằng việc tự tìm ra con đường của riêng mình là… Vả lại, làm gì có lối ra mới nào.”

“Người ta vẫn luôn cho là vậy.”

“Ngoài các cửa xả, nơi người ta phải có giấy phép Xuất hành, thì không thể nào ra ngoài được. Cuốn Sách nói thế.”

“Vậy thì cuốn Sách sai rồi, vì con đã ra ngoài bằng chính đôi chân mình.”

Bởi Kuno có được một sức mạnh thể chất nhất định.

Vào thời ấy, cơ bắp là một khuyết điểm. Mỗi đứa trẻ sơ sinh đều được kiểm tra lúc chào đời, và tất cả những đứa hứa hẹn sẽ khỏe mạnh quá mức đều bị tiêu hủy. Những người nhân đạo có thể phản đối, nhưng để một vận động viên sống sót thì chẳng phải là lòng tốt thật sự; anh ta sẽ không bao giờ hạnh phúc trong cảnh sống mà Cỗ Máy đã định cho mình; anh ta sẽ khao khát những cái cây để leo, những dòng sông để tắm, những đồng cỏ và ngọn đồi để thử sức thân thể. Con người phải thích nghi với môi trường của mình, chẳng phải vậy sao? Thuở bình minh của thế giới, kẻ yếu bị đem bỏ trên núi Taygetus; thuở hoàng hôn của nó, kẻ mạnh sẽ phải chịu cái chết êm ái, để Cỗ Máy có thể tiến lên, để Cỗ Máy có thể tiến lên, để Cỗ Máy có thể tiến lên mãi mãi.

“Mẹ biết là chúng ta đã đánh mất cảm giác về không gian. Chúng ta nói ‘không gian đã bị xóa bỏ’, nhưng thứ chúng ta xóa bỏ không phải là không gian, mà là cảm giác về nó. Chúng ta đã đánh mất một phần của chính mình. Con quyết tâm giành lại nó, và con bắt đầu bằng cách đi tới đi lui trên sân ga bên ngoài phòng mình. Tới rồi lui, cho đến khi mệt lả, và như thế con đã giành lại được ý nghĩa của ‘Gần’ và ‘Xa’. ‘Gần’ là nơi con có thể đến nhanh bằng đôi chân mình, chứ không phải nơi tàu hay phi thuyền sẽ đưa con đến nhanh. ‘Xa’ là nơi con không thể đến nhanh bằng đôi chân mình; cửa xả là ‘xa’, dù con có thể đến đó trong ba mươi tám giây nếu gọi tàu. Con người là thước đo. Đó là bài học đầu tiên của con. Đôi chân con người là thước đo khoảng cách, đôi tay con người là thước đo sự sở hữu, thân thể con người là thước đo của tất cả những gì đáng yêu, đáng khao khát và mạnh mẽ. Rồi con đi xa hơn nữa: chính lúc đó con gọi mẹ lần đầu tiên, và mẹ đã không chịu đến.

Thành phố này, như mẹ biết, được xây sâu dưới mặt đất, chỉ có các cửa xả là nhô lên. Sau khi đi bộ trên sân ga ngoài phòng mình, con đi thang máy lên sân ga tầng kế tiếp và cũng đi bộ ở đó, rồi lần lượt từng tầng một, cho đến khi lên tới tầng trên cùng, phía trên là đất. Tất cả các sân ga đều giống hệt nhau, và tất cả những gì con thu được khi đi qua chúng là phát triển được cảm giác về không gian và cơ bắp của mình. Con nghĩ lẽ ra con đã thỏa mãn với chừng ấy, đó không phải chuyện nhỏ, nhưng khi con vừa đi vừa ngẫm nghĩ, con chợt nhận ra rằng các thành phố của chúng ta đã được xây vào thời con người vẫn còn hít thở không khí bên ngoài, và hẳn đã từng có những ống thông gió cho công nhân. Con không thể nghĩ đến gì khác ngoài những ống thông gió ấy. Liệu chúng đã bị phá hủy bởi tất cả những ống dẫn thức ăn, ống dẫn thuốc và ống dẫn âm nhạc mà Cỗ Máy phát triển gần đây? Hay vẫn còn dấu vết của chúng? Có một điều chắc chắn. Nếu con tìm thấy chúng ở đâu, thì đó sẽ là trong các đường hầm tàu ở tầng trên cùng. Ở mọi nơi khác, từng tấc không gian đều đã được tính đến.

Con đang kể nhanh, nhưng mẹ đừng nghĩ là con không hèn nhát, hay những câu trả lời của mẹ chưa bao giờ làm con chán nản. Đi bộ dọc một đường hầm tàu là không đúng mực, không đúng chuẩn cơ giới, không đứng đắn. Con không sợ mình giẫm phải đường ray có điện mà chết. Con sợ một điều mơ hồ hơn nhiều: làm điều mà Cỗ Máy không dự liệu. Rồi con tự nhủ: ‘Con người là thước đo’, và con đi, và sau nhiều lần, con đã tìm thấy một lối mở.

Dĩ nhiên các đường hầm đều được chiếu sáng. Mọi thứ đều là ánh sáng, ánh sáng nhân tạo; bóng tối là ngoại lệ. Vì vậy khi con thấy một khe đen giữa những viên gạch, con biết đó là một ngoại lệ, và con mừng rỡ. Con thò tay vào, lúc đầu con chỉ thò được tay thôi, và vẫy vòng vòng trong sung sướng ngây ngất. Con nạy lỏng thêm một viên gạch, thò đầu vào, và hét vào bóng tối: ‘Ta đang đến đây, rồi ta sẽ làm được’, và tiếng con vang vọng xuống những hành lang vô tận. Con như nghe thấy linh hồn những người công nhân đã khuất, những người mỗi chiều tối lại trở về với ánh sao và với vợ mình, và tất cả những thế hệ từng sống ngoài trời gọi vọng lại con: ‘Con sẽ làm được, con đang đến.’”

Cậu ngừng lại, và dù cậu thật ngớ ngẩn, những lời cuối cùng của cậu đã làm bà xúc động.

Bởi gần đây Kuno đã xin được làm cha, và yêu cầu của cậu đã bị Ủy ban từ chối. Cậu không thuộc mẫu người mà Cỗ Máy muốn truyền lại cho đời sau.

“Rồi một đoàn tàu chạy qua. Nó sượt qua con, nhưng con đã kịp chui đầu và hai tay vào cái lỗ. Một ngày như thế là đủ rồi, nên con bò trở lại sân ga, đi thang máy xuống, và gọi giường. Ôi, những giấc mơ! Và con lại gọi mẹ, và mẹ lại từ chối.”

Bà lắc đầu và nói:

“Đừng. Đừng nói về những chuyện khủng khiếp ấy. Con làm mẹ khổ sở. Con đang vứt bỏ nền văn minh.”

“Nhưng con đã giành lại được cảm giác về không gian, và khi ấy thì con người không thể nào yên được. Con quyết tâm chui vào cái lỗ và trèo lên ống thông gió. Vì vậy con luyện tập đôi tay. Ngày này qua ngày khác con làm những động tác lố bịch, cho đến khi da thịt đau nhức, và con có thể đu người bằng hai tay, và giơ thẳng chiếc gối của mình ra trong nhiều phút liền. Rồi con gọi một chiếc mặt nạ thở, và lên đường.

Lúc đầu thì dễ. Vữa đã mục ra bằng cách nào đó, và chẳng mấy chốc con đẩy thêm được vài viên gạch vào, trèo theo chúng vào bóng tối, và linh hồn những người đã khuất an ủi con. Con không biết con muốn nói gì với điều đó. Con chỉ kể lại những gì con cảm thấy. Lần đầu tiên, con cảm thấy rằng một lời phản kháng đã được cất lên chống lại sự mục ruỗng, và rằng cũng như những người đã khuất đang an ủi con, con đang an ủi những người chưa ra đời. Con cảm thấy nhân loại tồn tại, và tồn tại mà không cần quần áo. Làm sao con giải thích được điều này? Nó trần trụi, nhân loại dường như trần trụi, và tất cả những ống dẫn, nút bấm, máy móc này không đến với thế giới cùng chúng ta, cũng sẽ không theo chúng ta ra đi, cũng chẳng hề quan trọng tối thượng khi chúng ta còn ở đây. Giá như con mạnh mẽ, con đã xé bỏ mọi tấm áo trên người, và bước ra không khí bên ngoài mà không quấn quýt gì. Nhưng điều đó không dành cho con, có lẽ cũng không dành cho thế hệ của con. Con đã trèo lên với chiếc mặt nạ thở, với bộ quần áo vệ sinh và những viên thuốc dinh dưỡng của con! Thà như thế còn hơn không.

Có một chiếc thang, làm bằng một thứ kim loại cổ xưa. Ánh sáng từ đường tàu rọi lên những bậc thấp nhất, và con thấy nó dẫn thẳng lên trên từ đống gạch vụn dưới đáy ống. Có lẽ tổ tiên chúng ta đã chạy lên chạy xuống nó hàng chục lần mỗi ngày khi xây dựng. Khi con trèo lên, những cạnh sắc cắt xuyên qua găng tay khiến tay con chảy máu. Ánh sáng giúp con được một lúc, rồi bóng tối ập đến, và tệ hơn nữa là sự im lặng, xuyên vào tai con như một thanh gươm. Cỗ Máy rì rầm! Mẹ có biết không? Tiếng rì rầm của nó thấm vào máu chúng ta, và thậm chí có thể dẫn dắt cả suy nghĩ của chúng ta. Ai mà biết được! Con đang thoát ra khỏi quyền lực của nó. Rồi con nghĩ: ‘Sự im lặng này có nghĩa là mình đang làm điều sai trái.’ Nhưng con nghe thấy những giọng nói trong im lặng, và một lần nữa chúng tiếp sức cho con.”

Cậu bật cười. “Con đã rất cần đến chúng. Ngay sau đó con đập đầu vào một thứ gì đó.”

Bà thở dài.

“Con đã chạm tới một trong những nắp chặn khí nén bảo vệ chúng ta khỏi không khí bên ngoài. Có lẽ mẹ đã thấy chúng trên phi thuyền. Tối đen như mực, chân con đặt trên bậc của một chiếc thang vô hình, tay con bị cắt; con không giải thích được làm sao con sống sót qua đoạn này, nhưng những giọng nói vẫn an ủi con, và con lần tìm các chốt cài. Cái nắp chặn, con đoán, rộng khoảng hai mét rưỡi. Con lướt tay trên nó xa hết mức có thể với tới. Nó nhẵn hoàn toàn. Con sờ được gần tới chính giữa. Không hẳn tới chính giữa, vì tay con quá ngắn. Rồi giọng nói kia bảo: ‘Nhảy đi. Đáng lắm. Có thể có một tay nắm ở giữa, và con có thể bám lấy nó, và như thế đến với chúng ta bằng con đường của riêng con. Còn nếu không có tay nắm, để con rơi xuống tan xương nát thịt, thì vẫn đáng: con vẫn đến với chúng ta bằng con đường của riêng con.’ Thế là con nhảy. Có một tay nắm, và…”

Cậu ngừng lại. Nước mắt đọng trên mắt mẹ cậu. Bà biết cậu đã bị định đoạt. Nếu cậu không chết hôm nay thì cậu sẽ chết ngày mai. Thế giới này không có chỗ cho một người như thế. Và xen lẫn với lòng thương là sự ghê tởm. Bà xấu hổ vì đã sinh ra một đứa con như vậy, bà, người lúc nào cũng đứng đắn và đầy ý tưởng. Đây thật sự là cậu bé mà bà đã dạy cách dùng các nút chặn và nút bấm, và đã dạy cậu những bài học đầu tiên trong cuốn Sách ư? Chính hàng ria làm xấu môi cậu cho thấy cậu đang thoái hóa về một kiểu người man rợ nào đó. Đối với sự lại giống, Cỗ Máy không thể có lòng khoan dung.

“Có một tay nắm, và con đã bám được vào nó. Con treo lơ lửng như bị thôi miên trên bóng tối, và nghe tiếng rì rầm của bộ máy bên dưới như lời thì thầm cuối cùng trong một giấc mơ đang tàn. Tất cả những gì con từng quan tâm, tất cả những người con từng nói chuyện qua ống dẫn, bỗng trở nên nhỏ bé vô cùng. Trong lúc đó tay nắm xoay tròn. Sức nặng của con đã làm một thứ gì đó chuyển động, và con xoay chầm chậm, rồi…

Con không thể tả được. Con nằm ngửa mặt lên dưới ánh nắng. Máu trào ra từ mũi và tai con, và con nghe thấy một tiếng gầm khủng khiếp. Cái nắp chặn, với con bám trên đó, đã bị thổi bật khỏi mặt đất, và không khí mà chúng ta tạo ra ở dưới này đang thoát qua lỗ hổng lên bầu không khí bên trên. Nó phụt lên như một đài phun nước. Con bò trở lại chỗ đó, vì không khí trên cao làm đau, và có thể nói là con hớp từng ngụm lớn ở miệng lỗ. Chiếc mặt nạ thở đã bay đi đâu không biết, quần áo con rách tả tơi. Con chỉ nằm đó, môi kề sát miệng lỗ, và hớp, hớp mãi cho đến khi máu ngừng chảy. Mẹ không thể tưởng tượng được điều gì kỳ lạ hơn thế. Cái hõm trên cỏ này, lát nữa con sẽ kể về nó, mặt trời chiếu vào đó, không rực rỡ mà xuyên qua những đám mây vân như cẩm thạch, sự yên bình, sự thản nhiên, cảm giác về không gian, và, sượt qua má con, là đài phun ầm ầm của thứ không khí nhân tạo của chúng ta! Chẳng mấy chốc con nhìn thấy chiếc mặt nạ thở của mình, nhấp nhô lên xuống trong luồng khí cao trên đầu, và cao hơn nữa là nhiều phi thuyền. Nhưng chẳng ai bao giờ nhìn ra ngoài từ phi thuyền, và dù sao họ cũng không thể vớt con lên được. Con ở đó, mắc kẹt. Mặt trời chiếu được một quãng xuống ống thông, làm lộ ra bậc thang trên cùng, nhưng cố với tới nó là vô vọng. Hoặc con sẽ bị luồng khí thoát hất tung lên lần nữa, hoặc con sẽ rơi xuống và chết. Con chỉ có thể nằm trên cỏ, hớp và hớp, thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn quanh.

Con biết mình đang ở Wessex, vì trước khi lên đường con đã cẩn thận dự một bài giảng về chủ đề đó. Wessex nằm ngay phía trên căn phòng mà mẹ con mình đang nói chuyện đây. Nó từng là một vương quốc quan trọng. Các vị vua của nó nắm giữ toàn bộ bờ biển phía nam, từ rừng Andredswald đến Cornwall, trong khi bức lũy Wansdyke che chở họ ở phía bắc, chạy dài qua vùng đất cao. Diễn giả chỉ quan tâm đến sự trỗi dậy của Wessex, nên con không biết nó còn là một cường quốc trong bao lâu, mà dù có biết thì cũng chẳng giúp gì được con. Nói thật, trong đoạn này con chẳng làm gì được ngoài việc bật cười. Con ở đó, bên cạnh một cái nắp chặn khí nén, và một chiếc mặt nạ thở nhấp nhô trên đầu, cả ba bị giam trong một cái hõm cỏ mọc um tùm, viền quanh bởi dương xỉ.”

Rồi cậu lại trở nên nghiêm trang.

“May cho con đó là một cái hõm. Vì không khí bắt đầu rơi ngược vào đó và lấp đầy nó như nước lấp đầy một cái bát. Con có thể bò quanh. Lát sau con đứng dậy được. Con hít một hỗn hợp, trong đó thứ không khí làm đau chiếm ưu thế mỗi khi con cố trèo lên vách. Như thế cũng không đến nỗi tệ. Con chưa mất những viên thuốc của mình và vẫn vui vẻ một cách lố bịch, còn Cỗ Máy thì con quên bẵng đi mất. Mục tiêu duy nhất của con lúc này là leo lên đỉnh, nơi có dương xỉ, và ngắm nhìn bất cứ thứ gì nằm bên kia.

Con lao lên dốc. Không khí mới vẫn còn quá gắt với con, và con lăn trở xuống, sau khi thoáng thấy một thứ gì đó màu xám. Mặt trời yếu ớt hẳn đi, và con nhớ ra rằng nó đang ở cung Hổ Cáp, con cũng đã dự một bài giảng về chuyện đó. Nếu mặt trời ở cung Hổ Cáp, và mẹ đang ở Wessex, thì có nghĩa là mẹ phải nhanh hết mức có thể, nếu không trời sẽ tối quá. Đây là mẩu thông tin hữu ích đầu tiên con từng nhận được từ một bài giảng, và con đoán cũng sẽ là mẩu cuối cùng. Nó khiến con cuống cuồng cố hít thở không khí mới, và tiến ra xa khỏi cái ao của mình hết mức con dám. Cái hõm đầy lên chậm quá. Có lúc con nghĩ đài phun đang yếu dần. Chiếc mặt nạ thở của con dường như nhảy múa gần mặt đất hơn; tiếng gầm đang giảm dần.”

Cậu ngừng bặt.

“Con nghĩ chuyện này không làm mẹ hứng thú. Phần còn lại sẽ càng làm mẹ chán hơn. Trong đó chẳng có ý tưởng nào cả, và con ước gì đã không làm phiền mẹ đến đây. Mẹ con mình khác nhau quá, mẹ ạ.”

Bà bảo cậu kể tiếp.

“Đến chiều tối con mới trèo lên được bờ hõm. Lúc ấy mặt trời gần như đã khuất khỏi bầu trời, và con không nhìn được rõ. Mẹ, người vừa bay qua Nóc nhà Thế giới, hẳn sẽ không muốn nghe kể về những ngọn đồi nhỏ mà con đã thấy, những ngọn đồi thấp không màu sắc. Nhưng với con, chúng đang sống, và lớp cỏ phủ trên chúng là một làn da, bên dưới những bắp thịt gợn sóng, và con cảm thấy những ngọn đồi ấy từng cất tiếng gọi con người trong quá khứ với một sức mạnh không sao đo đếm được, và con người đã yêu chúng. Giờ đây chúng ngủ, có lẽ mãi mãi. Chúng trò chuyện với nhân loại trong những giấc mơ. Hạnh phúc thay người đàn ông, hạnh phúc thay người đàn bà, đánh thức được những ngọn đồi Wessex. Vì dù chúng ngủ, chúng sẽ không bao giờ chết.”

Giọng cậu vút lên say đắm.

“Mẹ không thấy sao, tất cả các diễn giả các người không thấy sao, rằng chính chúng ta mới là kẻ đang chết dần, và ở dưới này, thứ duy nhất thực sự sống là Cỗ Máy? Chúng ta tạo ra Cỗ Máy để làm theo ý muốn của mình, nhưng giờ đây chúng ta không thể bắt nó làm theo ý mình nữa. Nó đã cướp đi của chúng ta cảm giác về không gian và cảm giác chạm, nó đã làm mờ nhạt mọi mối quan hệ giữa người với người và thu hẹp tình yêu lại thành một hành vi xác thịt, nó đã làm tê liệt thân thể và ý chí của chúng ta, và giờ đây nó buộc chúng ta phải tôn thờ nó. Cỗ Máy phát triển, nhưng không theo hướng của chúng ta. Cỗ Máy tiến lên, nhưng không tới đích của chúng ta. Chúng ta chỉ tồn tại như những tế bào máu chảy trong huyết quản của nó, và nếu nó có thể vận hành mà không cần chúng ta, nó sẽ để mặc chúng ta chết. Ôi, con chẳng có phương thuốc nào, hay ít ra là chỉ có một: nói đi nói lại với mọi người rằng con đã nhìn thấy những ngọn đồi Wessex như vua Alfred đã nhìn thấy khi ông đánh bại người Đan Mạch.

Vậy là mặt trời lặn. Con quên chưa kể rằng có một dải sương mù nằm giữa ngọn đồi của con và những ngọn đồi khác, và nó có màu ngọc trai.”

Cậu ngừng bặt lần thứ hai.

“Kể tiếp đi,” mẹ cậu mệt mỏi nói.

Cậu lắc đầu.

“Kể tiếp đi. Giờ con nói gì cũng chẳng làm mẹ đau lòng được nữa. Mẹ chai sạn rồi.”

“Con định kể nốt cho mẹ, nhưng con không thể: con biết là con không thể: tạm biệt mẹ.”

Vashti đứng đó, lưỡng lự. Mọi dây thần kinh của bà đều râm ran vì những lời báng bổ của cậu. Nhưng bà cũng tò mò.

“Thế này là không công bằng,” bà phàn nàn. “Con đã gọi mẹ băng qua nửa vòng trái đất để nghe con kể chuyện, và mẹ sẽ nghe cho bằng được. Kể cho mẹ, càng ngắn càng tốt, vì đây là một sự phí phạm thời gian tai hại, kể cho mẹ nghe con đã trở về với nền văn minh như thế nào.”

“Ồ, chuyện đó à!” cậu nói, giật mình. “Mẹ muốn nghe về nền văn minh. Được thôi. Con đã kể tới đoạn chiếc mặt nạ thở rơi xuống chưa nhỉ?”

“Chưa, nhưng giờ thì mẹ hiểu hết rồi. Con đeo mặt nạ thở vào, rồi xoay xở đi bộ trên mặt đất đến một cửa xả, và ở đó hành vi của con bị báo lên Ủy ban Trung ương.”

“Hoàn toàn không phải thế.”

Cậu đưa tay vuốt trán, như để xua đi một ấn tượng mạnh mẽ nào đó. Rồi, tiếp tục câu chuyện, cậu lại hăng say trở lại.

“Chiếc mặt nạ thở của con rơi xuống vào khoảng lúc mặt trời lặn. Con đã kể là đài phun có vẻ yếu đi rồi, phải không mẹ?”

“Ừ.”

“Khoảng lúc mặt trời lặn, nó để chiếc mặt nạ rơi xuống. Như con đã nói, con hoàn toàn quên bẵng Cỗ Máy, và lúc ấy con không để ý lắm, vì đang mải những chuyện khác. Con có cái ao không khí của mình, nơi con có thể nhúng mình vào khi không khí gắt gao bên ngoài trở nên không chịu nổi, và có lẽ nó sẽ còn đó nhiều ngày, miễn là không có gió nổi lên thổi tan nó. Mãi đến khi quá muộn con mới nhận ra việc luồng khí ngừng thoát có nghĩa là gì. Mẹ thấy đấy, lỗ hổng trong đường hầm đã được vá lại; Bộ máy Sửa chữa, chính Bộ máy Sửa chữa, đang đuổi theo con.

Con còn nhận được một lời cảnh báo nữa, nhưng con đã lờ nó đi. Bầu trời ban đêm trong hơn ban ngày, và mặt trăng, cách mặt trời chừng nửa bầu trời, có những lúc chiếu sáng khá rõ vào thung lũng nhỏ. Con đang ở chỗ quen thuộc của mình, trên ranh giới giữa hai bầu không khí, thì con tưởng như thấy một thứ gì đó tối màu di chuyển ngang qua đáy thung, rồi biến mất vào ống thông. Ngu ngốc thay, con chạy xuống. Con cúi xuống lắng nghe, và con tưởng như nghe thấy một tiếng cào khe khẽ dưới sâu.

Đến lúc ấy, nhưng đã quá muộn, con mới hoảng hốt. Con quyết định đeo mặt nạ thở vào và đi thẳng ra khỏi thung lũng. Nhưng chiếc mặt nạ đã biến mất. Con biết chính xác nó rơi ở đâu, giữa cái nắp chặn và miệng lỗ, và con còn sờ thấy được vết nó để lại trên cỏ. Nó đã biến mất, và con nhận ra có một thứ gì đó độc ác đang hoạt động, và tốt hơn hết con nên trốn sang bầu không khí bên kia, và nếu phải chết, thì chết khi đang chạy về phía đám mây từng có màu ngọc trai. Con chưa kịp chạy. Từ trong ống thông… thật quá khủng khiếp. Một con sâu, một con sâu dài màu trắng, đã bò ra khỏi ống thông và đang trườn trên thảm cỏ dưới ánh trăng.

Con hét lên. Con đã làm mọi điều không nên làm, con giẫm lên sinh vật ấy thay vì chạy trốn nó, và lập tức nó quấn quanh mắt cá chân con. Rồi chúng con vật lộn. Con sâu để con chạy khắp thung lũng, nhưng cứ thế nhích dần lên chân con trong lúc con chạy. ‘Cứu với!’ con kêu lên. Đoạn đó quá kinh khủng. Nó thuộc về phần mà mẹ sẽ không bao giờ biết. ‘Cứu với!’ con kêu lên. Sao chúng ta không thể chịu đau trong im lặng? ‘Cứu với!’ con kêu lên. Rồi hai chân con bị quấn chặt vào nhau, con ngã xuống, con bị lôi đi khỏi những bụi dương xỉ thân yêu và những ngọn đồi đang sống, qua cái nắp chặn kim loại to lớn, đoạn này thì con kể được, và con nghĩ nếu bám được vào tay nắm thì nó có thể cứu con lần nữa. Nhưng nó cũng đã bị quấn kín, nó cũng thế. Ôi, cả thung lũng đầy những sinh vật ấy. Chúng lục soát nó theo mọi hướng, chúng lột trụi nó, và những cái mõm trắng của những con khác thò ra khỏi lỗ, sẵn sàng nếu cần. Mọi thứ di chuyển được chúng đều mang đi, củi khô, những bó dương xỉ, mọi thứ, và tất cả chúng con quấn vào nhau mà rơi xuống địa ngục. Những thứ cuối cùng con nhìn thấy, trước khi nắp chặn đóng lại sau lưng, là mấy ngôi sao, và con cảm thấy rằng một con người như con đang sống trên bầu trời. Vì con đã chiến đấu, con chiến đấu đến tận cùng, và chỉ đến khi đầu con đập vào chiếc thang con mới chịu im. Con tỉnh dậy trong căn phòng này. Những con sâu đã biến mất. Quanh con là không khí nhân tạo, ánh sáng nhân tạo, sự bình yên nhân tạo, và bạn bè con đang gọi con qua ống nói để hỏi xem gần đây con có bắt gặp ý tưởng mới nào không.”

Câu chuyện của cậu kết thúc ở đó. Bàn luận về nó là điều không thể, và Vashti quay đi.

“Rồi sẽ kết thúc bằng cảnh Vô Gia Cư thôi,” bà lặng lẽ nói.

“Con mong là thế,” Kuno đáp lại.

“Cỗ Máy đã hết sức nhân từ.”

“Con thích lòng nhân từ của Chúa hơn.”

“Bằng câu nói mê tín ấy, ý con là con có thể sống trong không khí bên ngoài ư?”

“Vâng.”

“Con đã bao giờ thấy, quanh các cửa xả, xương cốt của những kẻ bị tống ra ngoài sau cuộc Đại Nổi loạn chưa?”

“Rồi ạ.”

“Người ta để chúng nằm nguyên chỗ những kẻ ấy đã bỏ mạng, để răn dạy chúng ta. Vài kẻ đã bò đi được, nhưng rồi chúng cũng chết, ai mà nghi ngờ điều đó được chứ? Và những Kẻ Vô Gia Cư thời nay cũng vậy. Bề mặt trái đất không còn nuôi dưỡng sự sống nữa.”

“Thật thế sao.”

“Dương xỉ và một ít cỏ có thể còn sống sót, nhưng mọi dạng sống cao hơn đều đã chết. Đã có phi thuyền nào phát hiện ra chúng chưa?”

“Chưa.”

“Đã có diễn giả nào nói về chúng chưa?”

“Chưa.”

“Thế thì sao con cứ cố chấp thế?”

“Vì con đã nhìn thấy họ,” cậu bùng nổ.

“Nhìn thấy cái gì?”

“Vì con đã nhìn thấy cô ấy trong ánh hoàng hôn, vì cô ấy đã đến cứu con khi con kêu cứu, vì cô ấy cũng bị những con sâu quấn lấy, và, may mắn hơn con, đã bị chết vì một con trong số chúng đâm xuyên cổ họng.”

Cậu điên rồi. Vashti ra về, và trong những biến cố sau đó, bà không bao giờ còn nhìn thấy mặt cậu nữa.

Phần ba. Những Kẻ Vô Gia Cư.

Trong những năm sau cuộc phiêu lưu của Kuno, hai bước phát triển quan trọng đã diễn ra trong Cỗ Máy. Bề ngoài, chúng mang tính cách mạng, nhưng trong cả hai trường hợp, đầu óc con người đã được chuẩn bị từ trước, và chúng chỉ biểu hiện những khuynh hướng vốn đã tiềm ẩn sẵn.

Bước thứ nhất là việc bãi bỏ mặt nạ thở. Những nhà tư tưởng tiến bộ, như Vashti, từ lâu vẫn cho rằng lên thăm bề mặt trái đất là chuyện ngớ ngẩn. Phi thuyền có thể cần thiết, nhưng ra ngoài chỉ vì tò mò, rồi bò lê đi một hai dặm trên một chiếc xe mặt đất thì được ích gì? Thói quen ấy thật tầm thường và có lẽ hơi khiếm nhã: nó chẳng sản sinh ra ý tưởng nào, và chẳng liên quan gì đến những thói quen thực sự quan trọng. Vì vậy mặt nạ thở bị bãi bỏ, và cùng với chúng, dĩ nhiên, là những chiếc xe mặt đất, và ngoại trừ vài diễn giả phàn nàn rằng họ bị cấm tiếp cận đối tượng nghiên cứu của mình, bước phát triển này được chấp nhận một cách lặng lẽ. Những ai vẫn muốn biết trái đất trông ra sao, rốt cuộc chỉ cần nghe một chiếc máy hát, hay nhìn vào một chiếc máy chiếu hình. Và ngay cả các diễn giả cũng chấp thuận, khi họ nhận ra rằng một bài giảng về biển cũng chẳng kém phần kích thích khi được biên soạn từ những bài giảng khác đã từng được trình bày về cùng đề tài.

“Hãy coi chừng những ý tưởng trực tiếp!” một trong những người tiến bộ nhất trong số họ kêu lên. “Ý tưởng trực tiếp thực ra không tồn tại. Chúng chẳng qua là những ấn tượng thể xác do tình yêu và nỗi sợ tạo ra, và trên cái nền móng thô thiển ấy thì ai có thể dựng nên một triết thuyết? Hãy để ý tưởng của các bạn là thứ đã qua tay người khác, và nếu được thì qua mười tay, vì khi đó chúng sẽ cách thật xa cái yếu tố gây xáo trộn kia: sự quan sát trực tiếp. Đừng tìm hiểu bất cứ điều gì về đề tài của tôi, cuộc Cách mạng Pháp. Thay vào đó, hãy tìm hiểu điều tôi nghĩ rằng Enicharmon nghĩ rằng Urizen nghĩ rằng Gutch nghĩ rằng Ho-Yung nghĩ rằng Chi-Bo-Sing nghĩ rằng Lafcadio Hearn nghĩ rằng Carlyle nghĩ rằng Mirabeau đã nói về cuộc Cách mạng Pháp. Qua trung gian của mười bộ óc vĩ đại ấy, máu đã đổ ở Paris và những ô cửa kính đã vỡ ở Versailles sẽ được gạn lọc thành một ý tưởng mà các bạn có thể vận dụng hết sức có ích trong đời sống hằng ngày. Nhưng hãy chắc chắn rằng các trung gian phải nhiều và đa dạng, vì trong lịch sử, uy tín này tồn tại để cân bằng uy tín khác. Urizen phải cân bằng sự hoài nghi của Ho-Yung và Enicharmon, chính tôi phải cân bằng sự bốc đồng của Gutch. Các bạn, những người đang nghe tôi, ở vào vị thế tốt hơn tôi để phán xét về cuộc Cách mạng Pháp. Con cháu các bạn còn ở vào vị thế tốt hơn các bạn nữa, vì chúng sẽ học điều các bạn nghĩ rằng tôi nghĩ, và thêm một trung gian nữa sẽ được nối vào chuỗi. Và rồi đến một lúc nào đó,” giọng ông vút lên, “sẽ xuất hiện một thế hệ đã vượt qua sự kiện, vượt qua ấn tượng, một thế hệ hoàn toàn không màu sắc, một thế hệ ‘thanh khiết như thiên thần, không vương chút cá tính nào’, thế hệ sẽ nhìn cuộc Cách mạng Pháp không phải như nó đã xảy ra, cũng không phải như họ mong nó đã xảy ra, mà như nó lẽ ra đã xảy ra, nếu nó diễn ra vào thời đại của Cỗ Máy.”

Những tràng vỗ tay vang dội chào đón bài giảng này, bài giảng chỉ nói lên một cảm thức vốn đã tiềm ẩn trong đầu óc con người: cảm thức rằng phải phớt lờ các sự kiện trên mặt đất, và việc bãi bỏ mặt nạ thở là một thành quả tích cực. Thậm chí có người còn đề xuất bãi bỏ luôn phi thuyền. Điều này không được thực hiện, vì bằng cách nào đó phi thuyền đã len được vào hệ thống của Cỗ Máy. Nhưng năm này qua năm khác, chúng ngày càng ít được dùng đến, và ngày càng ít được những người có suy nghĩ nhắc tới.

Bước phát triển lớn thứ hai là sự tái lập tôn giáo.

Điều này cũng đã được nói lên trong bài giảng nổi tiếng kia. Không ai có thể nhầm lẫn giọng điệu tôn kính trong phần kết của bài diễn văn, và nó đã khơi lên tiếng vọng đồng cảm trong lòng mỗi người. Những ai từ lâu đã thầm lặng tôn thờ, giờ bắt đầu lên tiếng. Họ mô tả cảm giác bình an kỳ lạ tràn ngập trong họ khi cầm cuốn Sách của Cỗ Máy, niềm vui khi nhắc đi nhắc lại một vài con số trong đó, dù những con số ấy chẳng mang mấy ý nghĩa với đôi tai bên ngoài, sự ngây ngất khi chạm vào một chiếc nút, dù chẳng quan trọng gì, hay khi bấm một hồi chuông điện, dù thừa thãi đến đâu.

“Cỗ Máy,” họ kêu lên, “nuôi ta ăn, cho ta mặc, cho ta chỗ ở; nhờ nó ta nói chuyện với nhau, nhờ nó ta nhìn thấy nhau, trong nó ta tồn tại. Cỗ Máy là bạn của ý tưởng và kẻ thù của mê tín: Cỗ Máy toàn năng, vĩnh cửu; phúc thay Cỗ Máy.”

Và chẳng bao lâu, lời tuyên xưng này được in lên trang đầu cuốn Sách, và trong những lần tái bản sau, nghi lễ phình to thành cả một hệ thống phức tạp gồm những lời ca tụng và cầu nguyện. Từ “tôn giáo” được tránh né cẩn thận, và trên lý thuyết, Cỗ Máy vẫn là tạo vật và công cụ của con người. Nhưng trên thực tế, tất cả, trừ một vài kẻ lạc hậu, đều tôn thờ nó như thần thánh. Mà sự tôn thờ ấy cũng chẳng thống nhất. Một tín đồ thì đặc biệt ấn tượng với những chiếc đĩa quang học màu xanh, qua đó anh ta nhìn thấy những tín đồ khác; người khác thì với bộ máy sửa chữa, thứ mà kẻ tội lỗi Kuno đã ví với những con sâu; người khác nữa thì với thang máy, người khác với cuốn Sách. Và mỗi người lại cầu nguyện thứ này hay thứ kia, xin nó cầu thay cho mình trước Cỗ Máy nói chung. Sự bức hại, điều đó cũng có mặt. Nó chưa bùng phát, vì những lý do sẽ được trình bày ngay sau đây. Nhưng nó tiềm ẩn, và tất cả những ai không chấp nhận mức tối thiểu được gọi là “Đạo Cơ giới phi giáo phái” đều sống trong nguy cơ bị trục xuất làm Kẻ Vô Gia Cư, mà như ta biết, nghĩa là cái chết.

Quy hai bước phát triển lớn này cho Ủy ban Trung ương là có một cái nhìn rất hạn hẹp về nền văn minh. Đúng là Ủy ban Trung ương đã công bố các bước phát triển ấy, nhưng họ không phải là nguyên nhân của chúng, cũng như các vị vua thời đế quốc không phải là nguyên nhân của chiến tranh. Đúng hơn, họ đã khuất phục trước một sức ép bất khả kháng nào đó, đến từ đâu không ai biết, và khi được thỏa mãn thì lại được nối tiếp bởi một sức ép mới cũng bất khả kháng như thế. Một tình trạng như vậy, người ta thấy tiện mà gọi nó là tiến bộ. Không ai thú nhận rằng Cỗ Máy đã vượt khỏi tầm kiểm soát. Năm này qua năm khác, nó được phục vụ với hiệu quả ngày càng cao và trí tuệ ngày càng thấp. Một người càng hiểu rõ bổn phận của mình đối với nó, thì càng ít hiểu bổn phận của người bên cạnh, và trên khắp thế giới không có lấy một người hiểu được con quái vật ấy như một tổng thể. Những bộ óc bậc thầy ấy đã không còn. Đúng là họ đã để lại những chỉ dẫn đầy đủ, và mỗi người kế tục họ đã nắm vững được một phần của những chỉ dẫn ấy. Nhưng Nhân loại, trong khát khao tiện nghi, đã tự vượt quá sức mình. Nó đã khai thác của cải của thiên nhiên quá mức. Lặng lẽ và tự mãn, nó đang chìm dần vào suy đồi, và tiến bộ giờ đây có nghĩa là sự tiến bộ của Cỗ Máy.

Còn Vashti, cuộc sống của bà trôi qua êm đềm cho đến tận thảm họa cuối cùng. Bà làm tối căn phòng và ngủ; bà thức dậy và làm sáng căn phòng. Bà giảng bài và dự các bài giảng. Bà trao đổi ý tưởng với vô số bạn bè, và tin rằng mình đang ngày càng thăng hoa về tinh thần. Thỉnh thoảng một người bạn được ban cho cái chết êm ái, và rời căn phòng của mình để đến với sự vô gia cư nằm ngoài mọi trí tưởng tượng của con người. Vashti không bận tâm lắm. Sau một bài giảng không thành công, đôi khi chính bà cũng xin được chết êm ái. Nhưng tỷ lệ tử không được phép vượt quá tỷ lệ sinh, và cho đến nay Cỗ Máy vẫn từ chối bà.

Những rắc rối bắt đầu một cách lặng lẽ, từ rất lâu trước khi bà nhận ra chúng.

Một ngày nọ, bà ngạc nhiên khi nhận được tin nhắn của con trai. Hai mẹ con chưa bao giờ liên lạc, vì chẳng có điểm chung nào, và bà chỉ nghe gián tiếp rằng cậu vẫn còn sống, và đã bị chuyển từ bán cầu bắc, nơi cậu đã gây ra bao chuyện tai quái, xuống bán cầu nam, thật ra là đến một căn phòng không xa phòng bà.

“Nó muốn mình đến thăm nó chăng?” bà nghĩ. “Không bao giờ nữa, không bao giờ. Mà mình cũng không có thời gian.”

Không, đó là một kiểu điên rồ khác.

Cậu không chịu hiện mặt mình trên chiếc đĩa xanh, và từ trong bóng tối, cậu trịnh trọng nói:

“Cỗ Máy ngừng chạy.”

“Con nói gì?”

“Cỗ Máy đang ngừng chạy, con biết điều đó, con biết những dấu hiệu.”

Bà phá lên cười. Cậu nghe thấy và nổi giận, và hai mẹ con không nói gì thêm nữa.

“Bạn có thể tưởng tượng ra điều gì phi lý hơn không?” bà kêu lên với một người bạn. “Một người từng là con trai tôi tin rằng Cỗ Máy đang ngừng chạy. Đó sẽ là sự báng bổ nếu nó không phải là sự điên rồ.”

“Cỗ Máy đang ngừng chạy?” người bạn đáp. “Thế nghĩa là sao? Câu nói ấy chẳng có nghĩa gì với tôi cả.”

“Với tôi cũng vậy.”

“Tôi đoán là anh ta không ám chỉ những trục trặc gần đây với âm nhạc chứ?”

“Ồ không, dĩ nhiên là không. Ta nói chuyện âm nhạc đi.”

“Bạn đã khiếu nại với nhà chức trách chưa?”

“Rồi, và họ bảo nó cần sửa chữa, và chuyển tôi sang Ủy ban Bộ máy Sửa chữa. Tôi đã khiếu nại về những tiếng thở dài hổn hển kỳ quặc làm hỏng các bản giao hưởng của trường phái Brisbane. Nghe như có ai đó đang đau đớn. Ủy ban Bộ máy Sửa chữa nói rằng sẽ sớm khắc phục.”

Lo lắng một cách mơ hồ, bà trở lại cuộc sống của mình. Một mặt, khiếm khuyết trong âm nhạc làm bà khó chịu. Mặt khác, bà không thể quên lời Kuno nói. Nếu cậu biết âm nhạc đang hỏng, mà cậu không thể biết được, vì cậu ghét âm nhạc, nếu cậu biết nó đang trục trặc, thì “Cỗ Máy ngừng chạy” chính là kiểu nhận xét độc địa mà cậu sẽ nói ra. Dĩ nhiên cậu chỉ nói bừa, nhưng sự trùng hợp làm bà bực bội, và bà nói chuyện với Ủy ban Bộ máy Sửa chữa bằng giọng có phần gắt gỏng.

Họ trả lời, như lần trước, rằng khiếm khuyết sẽ sớm được khắc phục.

“Sớm ư! Ngay lập tức!” bà vặc lại. “Tại sao tôi phải chịu đựng thứ âm nhạc không hoàn hảo? Mọi thứ luôn được sửa ngay lập tức. Nếu các người không sửa ngay, tôi sẽ khiếu nại lên Ủy ban Trung ương.”

“Ủy ban Trung ương không tiếp nhận khiếu nại cá nhân,” Ủy ban Bộ máy Sửa chữa đáp.

“Vậy thì tôi phải khiếu nại qua ai?”

“Qua chúng tôi.”

“Vậy thì tôi khiếu nại.”

“Khiếu nại của bà sẽ được chuyển đi theo thứ tự.”

“Đã có ai khác khiếu nại chưa?”

Câu hỏi này là phi cơ giới, và Ủy ban Bộ máy Sửa chữa từ chối trả lời.

“Thật quá đáng!” bà kêu lên với một người bạn khác. “Chưa từng có người đàn bà nào bất hạnh như tôi. Giờ tôi không bao giờ yên tâm được về âm nhạc của mình nữa. Mỗi lần tôi gọi nó lại tệ hơn.”

“Tôi cũng có rắc rối của mình,” người bạn đáp. “Đôi khi ý tưởng của tôi bị cắt ngang bởi một tiếng rít khe khẽ.”

“Tiếng gì vậy?”

“Tôi không biết nó ở trong đầu tôi, hay ở trong tường.”

“Dù ở đâu thì cũng khiếu nại đi.”

“Tôi đã khiếu nại rồi, và khiếu nại của tôi sẽ được chuyển lên Ủy ban Trung ương theo thứ tự.”

Thời gian trôi qua, và họ không còn bực bội về những khiếm khuyết nữa. Những khiếm khuyết vẫn chưa được khắc phục, nhưng thân thể con người vào thời mạt kỳ ấy đã trở nên quy phục đến mức sẵn sàng thích nghi với mọi ý thích thất thường của Cỗ Máy. Tiếng thở dài ở những đoạn cao trào của bản giao hưởng Brisbane không còn làm Vashti khó chịu; bà chấp nhận nó như một phần của giai điệu. Tiếng rít, dù ở trong đầu hay trong tường, không còn khiến người bạn của bà phiền lòng. Và cũng thế với trái cây nhân tạo bị mốc, cũng thế với nước tắm bắt đầu bốc mùi, cũng thế với những vần thơ khập khiễng mà cỗ máy làm thơ bắt đầu nhả ra. Tất cả lúc đầu đều bị phàn nàn cay đắng, rồi được chấp nhận và bị lãng quên. Mọi thứ ngày càng tồi tệ hơn mà không ai lên tiếng.

Nhưng sự hỏng hóc của bộ máy ngủ thì khác. Đó là một sự ngưng trệ nghiêm trọng hơn. Đã đến một ngày, trên khắp thế giới, ở Sumatra, ở Wessex, ở vô số thành phố của Courland và Brazil, những chiếc giường, khi được những người chủ mệt mỏi gọi đến, đã không xuất hiện. Chuyện đó có vẻ nực cười, nhưng có thể tính từ đó mà đánh dấu sự sụp đổ của nhân loại. Ủy ban chịu trách nhiệm về sự cố bị những người khiếu nại tấn công tới tấp, và như thường lệ, họ chuyển những người ấy sang Ủy ban Bộ máy Sửa chữa, và đến lượt ủy ban này lại cam đoan với họ rằng khiếu nại của họ sẽ được chuyển lên Ủy ban Trung ương. Nhưng sự bất mãn tăng lên, vì loài người chưa đủ khả năng thích nghi để sống mà không cần ngủ.

“Có kẻ đang phá hoại Cỗ Máy…” họ bắt đầu.

“Có kẻ đang muốn tự xưng vương, muốn đưa yếu tố cá nhân trở lại.”

“Trừng phạt kẻ đó bằng cảnh Vô Gia Cư.”

“Đi cứu nào! Báo thù cho Cỗ Máy! Báo thù cho Cỗ Máy!”

“Chiến tranh! Giết kẻ đó đi!”

Nhưng lúc này Ủy ban Bộ máy Sửa chữa đứng ra, và xoa dịu cơn hoảng loạn bằng những lời lẽ được lựa chọn khéo léo. Họ thú nhận rằng chính Bộ máy Sửa chữa cũng đang cần được sửa chữa.

Hiệu quả của lời thú nhận thẳng thắn này thật đáng ngưỡng mộ.

“Dĩ nhiên,” một diễn giả nổi tiếng nói, chính là ông diễn giả về cuộc Cách mạng Pháp, người dát vàng lộng lẫy lên mỗi sự suy tàn mới, “dĩ nhiên giờ đây chúng ta sẽ không thúc ép những khiếu nại của mình nữa. Bộ máy Sửa chữa đã đối xử với chúng ta quá tốt trong quá khứ, đến mức tất cả chúng ta đều thông cảm với nó, và sẽ kiên nhẫn chờ nó hồi phục. Đến lúc thích hợp, nó sẽ trở lại với nhiệm vụ của mình. Trong khi chờ đợi, chúng ta hãy sống mà không cần giường, không cần thuốc viên, không cần những nhu cầu nhỏ nhặt khác. Tôi tin chắc rằng đó sẽ là mong muốn của Cỗ Máy.”

Cách đó hàng nghìn dặm, thính giả của ông vỗ tay. Cỗ Máy vẫn còn nối họ lại với nhau. Dưới đáy biển, bên dưới chân núi, chạy dài những sợi dây qua đó họ nhìn và nghe, những đôi mắt và đôi tai khổng lồ là di sản của họ, và tiếng rì rầm của bao bộ máy khoác lên suy nghĩ của họ một tấm áo quy phục duy nhất. Chỉ những người già và người ốm là vẫn không biết ơn, vì có tin đồn rằng bộ máy ban cái chết êm ái cũng đã hỏng, và nỗi đau đã xuất hiện trở lại giữa loài người.

Việc đọc trở nên khó khăn. Một thứ tàn rụi len vào bầu không khí và làm mờ độ sáng của nó. Có lúc Vashti gần như không nhìn thấy được bên kia căn phòng. Không khí cũng ô uế. Lời phàn nàn thì ầm ĩ, phương thuốc thì bất lực, còn giọng điệu của diễn giả thì anh hùng khi ông hô vang: “Can đảm lên! Can đảm lên! Có hề gì, miễn là Cỗ Máy vẫn còn chạy? Với nó, bóng tối và ánh sáng là một.” Và dù mọi thứ khá lên đôi chút sau một thời gian, ánh sáng rực rỡ ngày xưa không bao giờ trở lại, và nhân loại không bao giờ hồi phục sau khi bước vào cảnh chạng vạng. Có những lời bàn tán cuồng loạn về “biện pháp”, về “chế độ độc tài lâm thời”, và cư dân Sumatra được yêu cầu làm quen với cách vận hành của trạm năng lượng trung tâm, trạm năng lượng ấy nằm ở Pháp. Nhưng phần lớn là hoảng loạn ngự trị, và con người dốc sức cầu nguyện những cuốn Sách của mình, những bằng chứng hữu hình về sự toàn năng của Cỗ Máy. Có những cung bậc kinh hoàng, có lúc lại đồn đến những tin hy vọng: Bộ máy Sửa chữa sắp được sửa xong, kẻ thù của Cỗ Máy đã bị khuất phục, những “trung khu thần kinh” mới đang hình thành và sẽ làm việc còn huy hoàng hơn trước. Nhưng rồi đến một ngày, không chút báo trước, không một dấu hiệu suy yếu nào từ trước, toàn bộ hệ thống liên lạc sụp đổ, trên khắp thế giới, và thế giới, như họ hiểu về nó, đã kết thúc.

Lúc ấy Vashti đang giảng bài, và những nhận xét đầu tiên của bà đã được ngắt quãng bởi những tràng vỗ tay. Khi bà nói tiếp, thính giả trở nên im lặng, và đến khi kết thúc thì không còn một âm thanh nào. Có phần phật ý, bà gọi một người bạn chuyên về sự cảm thông. Không có tiếng đáp: hẳn người bạn đang ngủ. Và với người bạn tiếp theo bà cố gọi cũng vậy, rồi người tiếp theo nữa, cho đến khi bà nhớ lại câu nói bí hiểm của Kuno: “Cỗ Máy ngừng chạy.”

Câu nói vẫn chẳng có nghĩa gì. Nếu Vĩnh Hằng đang ngừng lại, thì dĩ nhiên chẳng mấy chốc nó sẽ được cho chạy lại.

Chẳng hạn, vẫn còn chút ánh sáng và không khí, bầu không khí đã khá lên vài giờ trước đó. Vẫn còn cuốn Sách, và chừng nào còn cuốn Sách thì còn an toàn.

Rồi bà suy sụp, vì cùng với sự ngưng hoạt động là một nỗi kinh hoàng không ngờ tới: sự im lặng.

Bà chưa bao giờ biết đến im lặng, và sự xuất hiện của nó suýt giết chết bà; nó đã giết chết ngay tức khắc hàng nghìn người. Từ lúc sinh ra, bà đã được bao bọc bởi tiếng rì rầm đều đặn. Với đôi tai, nó như không khí nhân tạo với đôi phổi, và những cơn đau dữ dội xuyên qua đầu bà. Và gần như không biết mình đang làm gì, bà loạng choạng tiến tới và nhấn chiếc nút lạ, chiếc nút mở cửa phòng giam của bà.

Cánh cửa phòng giam vận hành bằng một bản lề đơn giản của riêng nó. Nó không nối với trạm năng lượng trung tâm, đang hấp hối tận xa bên Pháp. Nó mở ra, khơi lên trong Vashti những hy vọng quá mức, vì bà nghĩ Cỗ Máy đã được sửa xong. Nó mở ra, và bà nhìn thấy đường hầm mờ tối cong mãi về phía xa, về phía tự do. Nhìn một lần, rồi bà co rúm lùi lại. Vì đường hầm đầy người: bà gần như là người cuối cùng trong thành phố ấy hoảng hốt.

Con người lúc nào cũng làm bà ghê sợ, và những người này là cơn ác mộng từ những giấc mơ tồi tệ nhất của bà. Người ta bò lê khắp nơi, người ta gào thét, rên rỉ, thở hổn hển, chạm vào nhau, biến mất trong bóng tối, và chốc chốc lại bị đẩy khỏi sân ga rơi xuống đường ray có điện. Có người đang tranh giành quanh những chiếc chuông điện, cố gọi những đoàn tàu không thể gọi được nữa. Có người đang gào đòi cái chết êm ái hay đòi mặt nạ thở, hay đang báng bổ Cỗ Máy. Có người đứng ở cửa phòng mình, giống như bà, sợ cả ở lại lẫn rời đi. Và đằng sau mọi ồn ào ấy là sự im lặng, sự im lặng là tiếng nói của trái đất và của những thế hệ đã ra đi.

Không, nó còn tệ hơn sự cô độc. Bà đóng cửa lại và ngồi xuống chờ đợi kết cục. Sự tan rã cứ tiếp diễn, kèm theo những tiếng nứt vỡ và ầm ì khủng khiếp. Những chiếc van giữ Bộ máy Y tế hẳn đã yếu đi, vì nó vỡ ra và treo lủng lẳng gớm ghiếc từ trần nhà. Sàn nhà dâng lên hạ xuống và hất bà văng khỏi ghế. Một ống dẫn rỉ rỉ trườn về phía bà như một con rắn. Và cuối cùng nỗi kinh hoàng sau chót đã đến gần: ánh sáng bắt đầu tắt dần, và bà biết rằng ngày dài của nền văn minh đang khép lại.

Bà xoay cuồng, cầu xin ít ra được cứu khỏi điều này, hôn cuốn Sách, nhấn hết nút này đến nút khác. Sự hỗn loạn bên ngoài ngày càng tăng, và thậm chí xuyên qua cả bức tường. Chầm chậm, ánh sáng rực rỡ trong phòng giam của bà mờ đi, những ánh phản chiếu tắt dần trên các công tắc kim loại. Giờ bà không còn nhìn thấy bàn đọc, giờ không còn nhìn thấy cuốn Sách, dù bà đang cầm nó trong tay. Ánh sáng nối gót âm thanh mà trốn chạy, không khí đang nối gót ánh sáng, và hư vô nguyên thủy trở lại cái hang động mà nó đã bị đẩy ra từ rất lâu. Vashti tiếp tục xoay cuồng, như những tín đồ của một tôn giáo xa xưa, gào thét, cầu nguyện, đập vào những chiếc nút bằng đôi tay đẫm máu.

Chính như thế mà bà đã mở được ngục tù của mình và thoát ra, thoát ra trong tâm hồn: ít nhất thì tôi thấy như vậy, trước khi dòng suy tưởng của tôi khép lại. Còn bà có thoát ra bằng thể xác hay không, điều đó tôi không thể nhận ra. Tình cờ, bà đập trúng công tắc mở cửa, và luồng không khí ô uế phả vào da, những tiếng thì thầm dồn dập vang to bên tai, cho bà biết rằng bà lại đang đối diện với đường hầm, với sân ga khủng khiếp nơi bà đã thấy người ta tranh giành nhau. Giờ họ không còn tranh giành nữa. Chỉ còn lại những tiếng thì thầm, và những tiếng rên rỉ nho nhỏ. Họ đang chết hàng trăm người ngoài kia trong bóng tối.

Bà òa khóc.

Có tiếng khóc đáp lại bà.

Họ khóc cho nhân loại, hai con người ấy, chứ không khóc cho chính mình. Họ không thể chịu nổi rằng đây sẽ là kết cục. Trước khi sự im lặng trọn vẹn, trái tim họ đã mở ra, và họ biết điều gì đã thật sự quan trọng trên trái đất. Con người, đóa hoa của muôn loài xác thịt, cao quý nhất trong mọi sinh vật hữu hình, con người từng tạo ra thần thánh theo hình ảnh của mình, và từng phản chiếu sức mạnh của mình lên các chòm sao, con người trần trụi đẹp đẽ đang chết dần, bị siết nghẹt trong tấm áo do chính mình dệt nên. Hết thế kỷ này đến thế kỷ khác con người đã lao lực, và đây là phần thưởng. Quả thật, ban đầu tấm áo trông như thiên đường, óng ánh sắc màu văn hóa, khâu bằng những sợi chỉ của sự tự chế. Và nó đã là thiên đường chừng nào nó còn chỉ là một tấm áo và không gì hơn, chừng nào con người còn có thể cởi bỏ nó tùy ý và sống bằng cái tinh túy là linh hồn mình, và cái tinh túy cũng thiêng liêng không kém là thân thể mình. Tội lỗi chống lại thân thể: chủ yếu là vì điều đó mà họ khóc; những thế kỷ đối xử bất công với cơ bắp và thần kinh, và với năm cánh cửa mà chỉ qua đó ta mới cảm nhận được thế giới, rồi che đậy tất cả bằng những lời lẽ về tiến hóa, cho đến khi thân thể chỉ còn là một thứ bột nhão trắng bệch, nơi trú ngụ của những ý tưởng cũng nhạt nhòa như thế, những cựa quậy nhầy nhụa cuối cùng của một tinh thần đã từng với tới các vì sao.

“Con ở đâu?” bà nức nở.

Giọng cậu trong bóng tối đáp: “Ở đây.”

“Còn hy vọng nào không, Kuno?”

“Không còn cho chúng ta nữa.”

“Con ở đâu?”

Bà bò qua những xác người. Máu cậu phun lên tay bà.

“Nhanh lên,” cậu thở hổn hển, “con sắp chết rồi, nhưng chúng ta chạm vào nhau, chúng ta nói chuyện với nhau, không qua Cỗ Máy.”

Cậu hôn bà.

“Chúng ta đã trở về với chính mình. Chúng ta chết, nhưng chúng ta đã giành lại sự sống, như nó đã từng ở Wessex, khi vua Alfred đánh bại người Đan Mạch. Chúng ta biết điều mà những người bên ngoài biết, những người sống trong đám mây có màu ngọc trai.”

“Nhưng Kuno, có thật không? Vẫn còn con người trên bề mặt trái đất sao? Có phải đây, đường hầm này, bóng tối nhiễm độc này, thật sự không phải là tận cùng?”

Cậu đáp:

“Con đã nhìn thấy họ, đã nói chuyện với họ, đã yêu thương họ. Họ đang ẩn mình trong sương mù và dương xỉ cho đến khi nền văn minh của chúng ta ngừng lại. Hôm nay họ là những Kẻ Vô Gia Cư. Ngày mai…”

“Ôi, ngày mai, rồi sẽ có một kẻ ngốc nào đó cho Cỗ Máy chạy lại, ngày mai.”

“Không bao giờ,” Kuno nói, “không bao giờ. Nhân loại đã học được bài học của mình.”

Khi cậu nói, cả thành phố vỡ tan như một tổ ong. Một chiếc phi thuyền đã bay qua cửa xả vào một bến cảng đổ nát. Nó lao xuống, vừa rơi vừa nổ tung, xé toạc hết hành lang này đến hành lang khác bằng đôi cánh thép của nó. Trong một khoảnh khắc, họ nhìn thấy những dân tộc của người chết, và, trước khi nhập vào cùng họ, những mảnh trời không vẩn đục.

Hết.

 
 
bottom of page